nghệ thuật chí phèo

VNTB - Truyện ngắn Chí Phèo và nghệ thuật xài người của báo Văn nghệ TP.HCM. Phùng Hoài Ngọc (VNTB)Tuy nhiên tôi băn khoăn đến cùng, rằng vì sao TP.HCM lại xài một chiêu thức quá cũ thời thực dân nửa phong kiến mà nhà văn Nam Cao đã phơi bày trong thiên truyện bất hủ của Nghệ thuật phải có sáng tạo, chứ không phải dập khuôn. Nay đóng vai này, mai đóng vai khác, thì cần phải học từ trong sách vở ra ngoài đời để tích lũy kinh nghiệm. Chẳng hạn, tôi đâu phải người nông dân mà vẫn đóng được vai Thị Nở là tận cùng của xã hội. 1. Kiến thức: - Hình tượng nhân vật Chí Phèo (những biến đổi về nhân hình, nhân tính sau khi ở tù) - Những nét đặc sắc trong nghệ thuật truyện ngắn Nam Cao như điển hình hóa nhân vật, miêu tả tâm lí, nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ nghệ thuật. 2. Kĩ năng: Đọc Công Nghệ - Game; Chí Phèo Ngoại Truyện là tác phẩm điện ảnh đầu… Khuyến mãi mới nhất. Thủ thuật XEM VIDEO trên FSHARE MOBILE CHỈ 1 BƯỚC không phải… Fshare. Th9 27, 2022. Th9 8, 2022. Thông báo | Nâng cấp hệ thống một số cổng thanh toán… Th8 31, 2022. Th8 31, 2022. Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao: - Văn chương phải bắt nguồn từ cuộc sống và phải phục vụ cuộc sống. - Đề cao sự tìm tòi, sáng tạo. - Đề cao lương tâm, trách nhiệm nhà văn. - Quan niệm một tác phẩm có giá trị phải mang giá trị nhân đạo, phải có ý nghĩa Recherche Un Site De Rencontre Gratuit Et Serieux. Bài viết Đặc sắc nghệ thuật trong Chí Phèo sẽ phân tích kĩ những đặc sắc nghệ thuật khó lặp lại giúp làm nên thành công của truyện ngắn Chí Phèo Nam Cao. Tại sao đây lại là tác phẩm sống mãi với thời gian, những đặc sắc đó là gì? Hãy cùng xem bài viết Đặc sắc nghệ thuật trong Chí Phèo​ “Chí phèo” là tác phẩm xuất sắc nhất của nhà văn Nam Cao và cũng là tác phẩm tiêu biểu nhất của nền văn học hiện thực phê phán. Thành công của truyện ngắn Chí Phèo không chỉ ở hình tượng nhân vật Chí Phèo mà còn ở bút pháp viết truyện ngắn có một không hai của nhà văn Nam Cao.​1. Bút pháp điển hình hoá đạt tới trình độ bậc thầy trong xây dựng nhân vật.​Nam Cao có biệt tài trong việc miêu tả, phân tích tâm lý nhân vật. Tác giả có khả năng trong việc miêu tả tâm lý phức tạp của nhân vật, làm cho nhân vật hiện lên trước mắt người đọc rất sống động, có cá tính độc đáo. Nam cao đã sử dụng nhiều thủ pháp, nhiều phương tiện để miêu tả tâmlý nhân vật, tạo nên một chủ nghĩa tâm lý trong sáng tác của ông. Nam Cao thường sử dụng thiên nhiên làm phương tiện để thể hiện trạng thái tâm lý của nhân vật. Khung cảnh thiên nhiên được cảm nhận qua đôi mắt của Chí Phèo sau khi thức tỉnh “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá…” là những âm thanh quen thuộc của cuộc sống mà bấy lâu nay Chí Phèo không nhận thấy, giờ trở thành tiếng gọi tha thiết kéo Chí Phèo trở lại với cuộc sống lương thiện, đánh thức khát khao lương thiện trong tâm hồn Chí Chí Phèo, Bá Kiến là những điển hình nghệ thuật bất hủ. Họ vừa tiêu biểu cho một loại người có bề dày xã hội, vừa là những con người rất cụ thể, có sức sống nội tại mạnh mẽ. Khác với những nhân vật của một số nhà văn đương thời có chức năng chủ yếu là khái quát tính cách nhân vật. “Chí Phèo” của Nam Cao đã khái quát một hiện tượng phổ biến đã trở thành quy luật trong xã hội lúc bấy giờ; hiện tượng những người nông dân nghèo lương thiện do bị áp bức bóc lột đè nén nặng nề bị đẩy vào con đường tha hoá lưu manh. Khi xây dựng nhân vật, Nam Cao tạo ấn tượng bằng hai cách hoặc là miêu tả chi tiết, đặc tả diện mạo bên ngoài, hoặc là chỉ thoáng qua, không vẽ chi tiết cụ thể về diện mạo của nhân vật. Ở những sáng tác viết về người nông dân Nam Cao thường tạo nên những nhân vật dị dạng và tập trung miêu tả chi tiết hình dáng bên ngoài của những nhân vật này. Đó là bộ mặt “nặng chình chĩnh như người phù, da như da con tằm bủng, lại lấm tấm đầy những tàn nhang. Cái trán ngắn ngủn, ngắn ngủn lại gồ lên. Đôi mắt thì híp lại như mắt lợn sề” của Lang Rận. Đó là bộ mặt “vằn dọc vằn ngang không thứ tự biết bao nhiêu là sẹo” của Chí Phèo hay bộ mặt xấu đến mức ma chê qỷ hờn của Thị Nở. Đặc tả những bộ mặt dị dạng, ghê tởm của nhân vật là cách thức để Nam Cao làm rõ hơn tính cách bên trong của nhân vật. Ẩn sâu dưới cái vẻ bề ngoài ghê tởm, đáng sợ ấy là những con người hết sức đáng thương. Do hoàn cảnh xô đẩy mà Chí Phèo từ một người nông dân hiền lành, lương thiện bị biến thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại, một kẻ đâm thuê chém mướn, gây ra không biết bao nhiêu tội ác, nhưng rồi Nam Cao vẫn phát hiện ra đốm sáng lương tri còn sót lại trong con người bị tước đoạt cả nhân hình và nhân tính ấy. Chí Phèo thức tỉnh và khát khao trở lại làm người lương thiện. Thị Nở là người đàn bà xấu đến mức ma chê quỷ hờn, nhà lại có dòng giống mả hủi, Thị lại dở hơi nên cả làng Vũ Đại đều xa lánh Thị “người ta tránh Thị như tránh một con vật nào rất tởm”. Một người phụ nữ như thế mà Chí Phèo muốn chung sống làm lại cuộc đời cũng không được xã hội thừa nhận. Khi miêu tả Thị Nở Nam Cao đã sử dung bút pháp cường điệu để tô đậm cái xấu của Thị Nở, Thị Nở càng xấu thì bi kịch của Chí Phèo càng lớn. Khi xây dựng nhân vật người trí thức Nam Cao ít khi miêu tả ngoại hình. Ông chỉ chú ý đến những nét ngoại hình thể hiện tâm lý, tính cách nhân vật mà ông tập trung đi sâu vào đặc tả diện mạo tinh thần nhân vật qua những giằng xé, những cuộc vật lộn căng thẳng về tinh thần bên trong của nhân vật. Tâm lý nhân vật trở thành đối tượng chính của ngòi bút Nam Cao. Tài năng miêu tả tâm lý của Nam Cao thể hiện ở chỗ ông có khả năng nắm bắt những biến thái tinh vi, những rung động tinh tế trong tâm hồn con người. Ông là một nhà văn có biệt tài khi miêu tả những trạng thái tâm lý phức tạp, những hiện tượng lưỡng tính dở say dở tỉnh, dở khóc dở cười, mấp mé ranh giới giữa thiện và ác, hiền với dữ, giữa con người với con vật. Với tài năng bậc thầy Nam Cao đã diễn tả cụ thể, sâu sắc diễn biến tâm trạng của Chí Phèo sau khi gặp thị Nở. Thị Nở với bát cháo hành tình nghĩa đã làm sống dậy bản chất lương thiện trong con người Chí. Sau bao nhiêu năm ngập sâu trong vũng bùn tội lỗi, giờ đây Chí Phèo lại khát khao trở về với cuộc sống lương thiện. Tuy nhiên nhân vật của Nam Cao còn thể hiện như một nhân vật có cá tính hết sức độc đáo, không lặp lại, vừa đa dạng vừa thống nhất. Chí Phèo vừa là kẻ bán rẻ cả nhân tính, nhân hình để tồn tại, vừa là kẻ dám thủ tiêu sự sống của mình khi nhân phẩm đã trở về. Chí Phèo vừa là con quỷ dữ của làng Vũ Đại, một thằng triền miên chìm trong cơn say đến mất cả lý trí, vừa là kẻ khao khát lương thiện, muốn làm hoà với mọi người, vừa là một kẻ nô lệ thức tỉnh, một đầu óc sáng suốt nhất, tỉnh táo nhất của làng Vũ Đại khi đặt ra những câu hỏi có tầm khái quát sâu sắc về quyền được làm người lương thiện đến mức Bá Kiến cũng phải ngạc nhiên. Chí Phèo còn là kẻ cố cùng, vừa là người tự xưng “anh hùng làng này cóc thằng nào bằng ta”. Chí phèo, Binh chức, Năm Thọ trong “Chí Phèo” vốn là những con người lương thiện nhưng bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa, mất cả nhân hình và nhân tính. Viết về những người nông dân bị đẩy vào con đường tha hóa Nam Cao đã lên án gay gắt xã hội bất công, ngang trái đã chà đạp lên nhân phẩm con người, đồng thời phát hiện và khẳng định bản chất lương thiện vẫn luôn tồn tại ở ngay cả những con người bị tha hóa Nghệ thuật trần thuật kể truyện linh hoạt tự nhiên phóng túng mà vẫn nhất quán, chặt chẽ, đảo lộn trình tự thời gian, mạch tự sự có những đoạn hồi tưởng, liên tưởng tạt ngang, tưởng như lỏng lẻo mà thực sự rất tự nhiên, hợp lý, hấp dẫn.​Ở truyện “Chí Phèo”, Nam Cao đã để nhân vật xuất hiện bắt đầu bằng tiếng chửi “Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu hắn chửi trời…”. Cách mở truyện như vậy gây ấn tượng và tạo sự cuốn hút với người đọc về cuộc đời, số phận của nhân vật. Nam Cao cũng hay sử dụng và sử dụng thành công kiểu kết cấu vòng tròn. Đây là kiểu kết cấu mà phần mở đầu và phần kết thúc của tác phẩm có sự tương ứng với nhau; những hình ảnh, những tình tiết xuất hiện ở đầu tác phẩm bằng hình thức này hay hình thức khác, lại được gợi ra một cách đầy ám ảnh ở cuối tác phẩm. Hình thức kết cấu này đòi hỏi một sự sắp xếp hợp lý các sự kiện, các tình tiết tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa chúng. Đọc “Chí Phèo” ta cứ mãi bị ám ảnh bởi hình ảnh “chiếc lò gạch cũ” xuất hiện ở phần đầu và phần cuối tác phẩm. Hình ảnh ấy vừa có ý nghĩa mở đầu và kết thúc, khép lại cuộc đời của một kẻ khốn khổ tủi nhục nhất trong xã hội thực dân phong kiến, vừa như dự báo về sự xuất hiện của một kiếp người mà số phận chắc sẽ còn thê thảm hơn nhiều. Bằng kiểu kết cấu này Nam Cao muốn nói rằng chừng nào xã hội còn nhiều bất công, ngang trái thì chừng ấy vẫn còn nhiều cuộc đời, nhiều số phận như Chí Phèo. Ở truyện “Đời thừa” kết cấu vòng tròn lại tạo ấn tượng sâu đậm về sự luẩn quẩn, bế tắc, không lối thoát của nhân vật Hộ. Là một nhà văn có lý tưởng, có hoài bão nhưng vì lẽ sống tình thương, vì gánh nặng gia đình Hộ buộc phải hi sinh lý tưởng, viết dễ dãi để nuôi sống gia đình, vì vậy mà Hộ luôn day dứt, tự dày vò bản thân, Hộ tìm đến rượu để quên đi những đau đớn về tinh thần. Lúc say Hộ đối xử với vợ con như một kẻ vũ phu, nhưng khi tỉnh lại Hộ lại vô cùng hối hận, tuyên bố sẽ chừa rượu, nhưng rồi Hộ lại uống và lại thô bạo với vợ con …sau đó lại ăn năn, hối hận. Kết cấu vòng tròn của tác phẩm đã góp phần làm nổi bật tấn bi kịch tinh thần luẩn quẩn, không lối thoát của nhân vật Ngôn ngữ của Nam Cao cũng đặc biệt tự nhiên, sinh động, sử dụng khẩu ngữ quần chúng một cách triệt để, mang hơi thở đời sống, giọng văn hoá đời sống.​Ngôn ngữ kể chuyện vừa là ngôn ngữ của tác giả, vừa là ngôn ngữ của nhân vật, nhiều giọng điệu đan xen, tạo nên một thứ ngôn ngữ đa thanh đặc Khắc họa chi tiết nghệ thuật độc đáo.​– Tiếng chửi của Chí Phèo là một “đặc sản” trong truyện. Cứ rượu vào là hắn chửi. Hắn chửi tất cả từ trời đời cả làng Vũ Đại “cha đứa nào không chửi nhau với hắn” “đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn”. Đối tượng chửi đã được xác định xã hội thực dân nửa phong kiến đã sinh ra cái thằng Chí Phèo, đối tượng chửi qua đó cũng thu hẹp dần chứng tỏ Chí đang rơi vào ngõ cụt của sự bế tắc. Hắn lồng lồng chửi chỉ mong có ai đó chửi lại hắn, thế nhưng cái mà Chí nhận được là “trời có của riêng nhà nào” “đời là tất cả nhưng chẳng là ai” “không ai lên tiếng cả” “không ai ra điều” “nhưng mà biết đứa nào đã đẻ ra Chí Phèo”. Đáp lại tiếng chửi ấy trớ trêu thay lại là “tiếng chó cắn lao xao”. Chí chửi tức là Chí muốn giao tiếp với mọi người nhưng tất cả đều im lặng, chỉ có “ba con chó dữ với một thằng say rượu”. Chí đã bị đánh bật ra khỏi xã hội loài người, tiếng chửi trở nên vật vã, tuyệt vọng. Tiếng chửi của Chí là tiếng nói đau thương của một con người ý thức về bi kịch của mình sống giữa cuộc đời nhưng đã mất quyền làm người Đó chính là sự đau xót của nhà văn đối với nhân vật của mình. – Chi tiết bát cháo hành của Thị Nở giống như một phép màu làm thức tỉnh con người. Hình ảnh này xuất hiện ở phần giữa truyện. Chí Phèo say rượu, gặp Thị Nở ở vườn chuối. Khung cảnh hữu tình của đêm trăng đã đưa đến mối tình Thị Nở – Chí Phèo. Sau hôm đó, Chí Phèo bị cảm. Thị Nở thương tình đã về nhà nấu cháo hành mang sang cho hắn. Bát cháo hành trong cảm nhận của Chí “Nồi cháo còn nóng nguyên… vừa mang sang Thị đã đi tìm gạo, hành thì may nhà lại còn”. Bát cháo hành khiến Chí rất “ngạc nhiên” và thấy “mắt như ươn ướt” bởi vì đây là lần đầu tiên hắn được một người đàn bà. Bát cháo hành khiến Chí bâng khuâng nghĩa ngợi. Hắn cảm nhận “Cháo mới thơm làm sao”. Bát cháo là sự quan tâm của Thị dành cho hắn. Chỉ khói xông vào mũi cũng đủ làm người nhẹ nhõm. Hắn nhận ra cháo hành rất thơm ngon. Bất cháo hành giản dị trong cảm nhận của Chí là thứ rất ngon, đó là chi tiết khiến hắn lần đầu tiên và cũng là duy nhất cảm thấy được quan tâm, nó đánh thức nhân tính bấy lâu nay bị vùi lấp trong Chí. Bát cháo hành là sự thể hiện tình yêu thương của Thị Nở dành cho Chí phèo. Đó là hương vị của hạnh phúc, tình yêu muộn màng mà Chí Phèo được hưởng. Đó còn là liều thuốc giải cảm và giải độc tâm hồn Chí gây ngạc nhiên, xúc động mạnh, khiến nhân vật ăn năn, suy nghĩ về tình trạng thê thảm hiện tại của mình. Nó khơi dậy niềm khao khát được làm hoà với mọi người, hi vọng vào một cơ hội được trở về với cuộc sống lương thiện. Như vậy, bát cháo hành đã đánh thức nhân tính bị vùi lấp lâu nay ở Chí Phèo. Hình ảnh bát cháo hành có vai trò thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện, khắc họa sâu sắc nét tính cách, tâm lí và bi kịch của nhân vật, góp phần thể hiện sinh động tư tưởng Nam Cao tin tưởng vào sức mạnh cảm hoá của tình người. – Xây dựng kết cấu vòng trò đầu cuối tương ứng rất đặc sắc. Sau khi Chí Phèo chết, ở phần kết thúc tác phẩm, Thị Nở lại xuất hiện. Thị “nhớ lại lúc ăn nằm với hắn… rồi nhìn nhanh xuống bụng”, “Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng bóng người lại qua…”. Cử chỉ và ý nghĩ của thị khiến người ta nghĩ tới sẽ lại có một Chí Phèo con ra đời …. Hình ảnh “cái lò gạch cũ” xuất hiện trong ý nghĩ của Thị ở đây nằm trong ý đồ nghệ thuật của nhà văn Một kiểu kết cấu tác phẩm đầu cuối tương ứng – kết cấu vòng tròn. Mâu thuẫn giai cấp giữa nông dân và địa chủ cường hoà một lần nữa được nhấn mạnh tô đậm. Bá Kiến chết thì có lí Cường, Chí Phèo chết thì có một Chí Phèo con sẽ xuất hiện. Mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ cường hào khi âm ỉ, khi bùng lên dữ dội, song không thể giải quyết. Vấn đề những con người lao động lương thiện bị xã hội đẩy vào con đường lưu manh cùng quẫn quay lại chống trả với xã hội bằng chính sự lưu manh của mình là vấn đề thuộc về bản chất, là quy luật tất yếu khi xã hội thực dân phong kiến còn tồn tại. Hình ảnh “cái lò gạch cũ” nằm trong ý đồ nghệ thuật và là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của nhà văn Nam hình ảnh này, chủ đề của thiên truyện được khơi thêm những chiều sâu mới. * Nhận xét Với tất cả những đặc sắc nghệ thuật ấy, “Chí Phèo” đánh dấu một trình độ phát triển mới của văn học và nghệ thuật viết truyện ở nước ta. Tác phẩm Chí Phèo là một tác phẩm xuất sắc của nhà văn Nam Cao nói riêng và văn học Việt Nam nói chung. Đây là một truyện ngắn không chỉ đem lại giá trị nội dung vô cùng sâu sắc, mà giá trị nghệ thuật của nó cũng là một đề tài vô cùng hay trong chương trình Ngữ văn lớp 11 cần ghi nhớ. Cùng tham khảo nội dung chi tiết dưới đâyTóm tắtgiá trị nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Chí Phèo - Nam CaoĐể có thể ghi nhớ được tất cả những giá trị trong nội dung và cả nghệ thuật thì các em có thể ghi nhớ những chi tiết quan trọng như sauVề nội dung- Tố cáo xã hội phong kiến bất công khiến con người sinh ra là người mà lại không được làm người- Thông qua đó nhấn mạnh hình ảnh và bản chất tốt đẹp của người dân lao động ngay cả khi tưởng họ đã bị xã hội tàn bạo cướp đoạt tất nghệ thuật- Nghệ thuật điển hình hoá nhân vật- Nghệ thuật miêu tả tâm lí tài tình- Nghệ thuật trần thuật, kết cấu mới mẻ, linh hoạt, phóng túng- Ngôn ngữ, giọng điệu sinh động- Cốt truyện độc đáo, các tình tiết giàu kịch hiểu rõ hơn về tác phẩm các em có thể tham khảo bài soạn bài Chí Phèo với những phân tích chi tiết để nêu bật giá trị của tác trị nội dung và nghệ thuật trong Chí PhèoGiá trị nội dung trong tác phẩm Chí Phèo của Nam cao- Giá trị hiện thựcSự đàn áp, bóc lột và tàn ác của bọn thực dân, phong kiến đối với những người nông dân trong xã hội xưaSố phận của người nông dân Việt Nam trước cách mạng lại vô cùng thê thảm, bần cùng và trở thành lưu manh. Họ bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa và cái chết là điều tất yếu để giải thoát họ khỏi những đau Giá trị nhân đạoLời kết án đanh thép xã hội thực dân, phong kiến tàn bạo đã phá cả thể xác và tâm hồn người nông dân lao động hiền lành, chất chứng Hình ảnh thu nhỏ của cả một xã hội với tất cả các tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ chính là chân dung của những kẻ như Bá Kiến, như bà cô Thị Nở, như những người dân làng Vũ cảm thông, chia sẻ, đau xót khi chứng kiến những con người hiền lành, lương thiện bị dày vò, tha hóa thành con quỷ dữ của cả làng Vũ chứng Kể cả khi Chí Phèo đã khao khát quay trở về làm người lương thiện thì xã hội ích kỉ, hẹp hòi kia cũng sẽ không chừa chỗ lại cho hắn. Hắn chỉ còn một con đường duy nhất là cái chết để giữ lại sự lương thiện cuối cùng trong con người định niềm tin của tác giả vào bản chất lương thiện của những người nông dânDẫn chứng Ngay cả khi họ bị vùi dập, mất cả nhân hình lẫn nhân tính thì khao khát được sống, được yêu thương và hạnh phúc cũng chưa bao giờ bị dập tắt trong họLà lời cảnh báo của tác giá với số phận của những người nông dân Việt Nam trước Cách mạng, nếu không thay đổi thì cuộc sống của họ cũng sẽ bế tắc, tuyệt vọng, tha hóa, lưu manh hóa và cái chết sẽ là điều không thể tránh chứng Điều ấy được thể hiện qua chi tiết Thị Nở nhìn nhanh xuống dưới bụng và lời dự báo về một Chí Phèo con sẽ ra trị nghệ thuật trong tác phẩm Chí Phèo của Nam cao1. Nghệ thuật điển hình hoá nhân vật Chí Phèo, Bá Kiến là những điển hình đặc sắc trong tác phẩm. Vừa sinh động, độc đáo, không lặp lại, các nhân vật này mang sức khái quát cao cho mối xung đột diễn ra khốc liệt ở nông thôn Việt Nam trước cách mạng, đặc biệt là nhân vật Chí Phèo. Hắn là điển hình sinh động cho những người nông dân cố cùng bị hủy hoại, tha hoá đến tận cùng bởi thế lực tàn bạo -> xây dựng nhân vật điển hình sắc Nghệ thuật miêu tả tâm lí tài tìnhTrong truyện ngắn đã tạo nên những đoạn văn tuyệt bút. Số phận và bi kịch của Chí Phèo được đào sâu cực độ qua những đoạn văn hay như đoạn Chí Phèo thức tỉnh sau đêm say rượu gặp Thị Nở; đoạn Chí Phèo bị cự tuyệt tình yêu...3. Cốt truyện độc đáo, các tình tiết giàu kịch tính, luôn biến hoá mang lại nhiều bất ngờ cho người đọcKết cấu vòng tròn, khép kín đã tạo nên chiều sâu cho thiên truyện Mở đầu truyện bằng hình ảnh đứa bé trần truồng xám ngắt nằm bên chiếc lò gạch cũ, kết thúc bằng hình ảnh Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng mình và thoáng nghĩ đến một cái lò gạch xa xôi vắng người qua lại...=> Kết cấu này cho thấy số phận bế tắc, quẩn quanh không lối thoát của kiếp người trong xã hội bóc lột. Chí Phèo chết nhưng còn bao nhiêu số kiếp Chí Phèo sẽ lại tái diễn?4. Ngôn ngữ, giọng điệu sinh độngNgôn ngữ, giọng điệu của Nam Cao được thể hiện một cách sinh động, đa dạng trong truyện ngắn này. Ngòi bút hiện thực vừa tỉnh táo, khách quan, sắc lạnh lại vừa đằm thắm, trữ tình như hòa quyện, xuyên thấm vào ra, giọng trần thuật cũng thay đổi phù hợp với diễn biến tâm lý nhân vật, khi thì dùng lời kể trực tiếp, khi thì nửa trực tiếp, khi lại có sự đan xen giữa hai giọng kể trên một cách nhịp nhàng, nhuần nhuyễn dẫn chứng đoạn văn mở đầu tác phẩm, đoạn miêu tả tâm trạng khi ăn bát cháo hành, đoạn độc thoại nội tâm của Bá Kiến.5. Cách dẫn chuyện linh hoạt và vô cùng hấp dẫnĐoạn mở đầu rất độc đáo gây ấn tượng mạnh bởi lối trần thuật nửa trực tiếp, có sự đan xen giữa lời người kể chuyện Hắn vừa đi vừa chửi... với độc thoại của nhân vật Ờ! Thế này thì tức thật!....Tác giả đã phá vỡ trật tự thông thường, dùng lối tự sự theo dòng nội tâm nhân vật để thuật lại diễn biến sự việc. Vì thế, trong lời trần thuật, hiện tại và hồi ức cứ lồng ghép vào nhau đoạn mở đầu, đoạn tả Chí Phèo “bâng khuâng tỉnh dậy sau một cơn say rất dài” ở cuối truyện,..., lời người kể và lời nhân vật có khi nhập vào nhau khiến cho điểm nhìn trần thuật cũng thay đổi một cách linh động lúc thì câu chuyện được thuật lại bằng một cái nhìn khách quan từ bên ngoài, lúc lại chuyển hoá thành điểm nhìn chủ quan của nhân vật từ bên trong.So với dung lượng của một truyện ngắn thì tác phẩm Chí Phèo tương đối dài, nhưng nó không hề nhàm chán bởi cách dẫn chuyện luôn biến ảo cùng những độc thoại nội tâm sinh động chẳng hạn độc thoại nội tâm của nhân vật Chí Phèo sau cơn tỉnh rượu.Kết luậnNhững cảm nhận và đánh giá khái quát về giá trị của nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Chí thể nêu ra suy nghĩ và liên tưởng của em về tác đây là những nội dung cơ bản đánh giá và phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Chí Phèo - Nam Cao. Mong rằng bài viết này sẽ giúp các em củng cố lại kiến thức về tác phẩm và áp dụng làm dạng bài phân tích giá trị nội dung nghệ thuật của một tác phẩm! Chúc các em làm bài tốt ! Trước khi bước sang bài văn mẫu phân tích giá trị nghệ thuật trong truyện ngắn Chí Phèo của nhà văn Nam Cao, HOC247 mời các em xem thêm video bài giảng của cô Phan Thị Mỹ Huệ hướng dẫn đọc hiểu truyện ngắn để qua đó giúp các em thấy được những đặc sắc về giá trị nghệ thuật mà Nam Cao thể hiện trong tác phẩm. Bài giảng giúp củng cố lại những kiến thức cần thiết cho các em để tiến hành viết bài văn được chính xác và hấp dẫn hơn. Mời các em cùng theo dõi! A. Sơ đồ tóm tắt gợi ý B. Dàn ý chi tiết a. Mở bài Giới thiệu về tác giả Nam Cao và truyện ngắn Chí Phèo Dẫn dắt vào vấn đề giá trị nghệ thuật trong truyện ngắn Chí Phèo b. Thân bài Khái quát chung Xuất xứ Nam cao đặt tên cho tác phẩm này là Cái lò gạch cũ, 1941 đổI lạI là Đôi lứa xứng đôi, 1945 sửa lạI là Chí Phèo, in trong tập Luống cày. Tóm tắt Chủ đề Qua số phận của nhân vật Chí Phèo, nhà văn Nam Cao đã lên án sâu sắc xã hội tàn bạo, chà đạp lên nhân phẩm con người đồng thời thể hiện tình thương yêu sâu sắc và niềm tin vào bản chất lương thiện của con người. Nội dung Nghệ thuật điển hình hoá nhân vật Chí Phèo, Bá Kiến là những điển hình đặc sắc trong tác phẩm. Vừa sinh động, độc đáo, không lặp lại, các nhân vật này mang sức khái quát cao cho mối xung đột diễn ra khốc liệt ở nông thôn Việt Nam trước cách mạng, đặc biệt là nhân vật Chí Phèo. Hắn là điển hình sinh động cho những người nông dân cố cùng bị hủy hoại, tha hoá đến tận cùng bởi thế lực tàn xây dựng nhân vật điển hình sắc nét Nghệ thuật miêu tả tâm lí tài tình trong tác phẩm tạo nên những đoạn văn tuyệt bút. Số phận và bi kịch của Chí Phèo được đào sâu cực độ qua những đoạn văn hay như đoạn Chí Phèo thức tỉnh sau đêm say rượu gặp Thị Nở; đoạn Chí Phèo bị cự tuyệt tình yêu... Kết cấu vòng tròn, khép kín đã tạo nên chiều sâu cho thiên truyện Mở đầu truyện bằng hình ảnh đứa bé trần truồng xám ngắt nằm bên chiếc lò gạch cũ, kết thúc bằng hình ảnh Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng mình và thoáng nghĩ đến một cái lò gạch xa xôi vắng người qua lại.... Kết cấu này cho thấy số phận bế tắc, quẩn quanh không lối thoát của kiếp người trong xã hội bóc lột. Chí Phèo chết nhưng còn bao nhiêu số kiếp Chí Phèo tái diễn?-> Cốt truyện dộc đáo, các tình tiết giàu kịch tính, luôn biến hoá mang lại nhiều bất ngờ cho người đọc Ngôn ngữ, giọng điệu của Nam Cao được thể hiện một cách sinh động, đa dạng trong truyện ngắn này. Ngòi bút hiện thực vừa tỉnh táo, khách quan, sắc lạnh lại vừa đằm thắm, trữ tình như hòa quyện, xuyên thấm vào nhau. Ngoài ra, giọng trần thuật cũng thay đổi phù hợp với diễn biến tâm lý nhân vật, khi thì dùng lời kể trực tiêp, khi thì nửa trực tiếp, khi lại có sự đan xen giữa hai giọng kể trên một cách nhịp nhàng, nhuần nhuyễn đoạn văn mở đầu tác phẩm, đoạn miêu tả tâm trạng khi ăn bát cháo hành, đoạn độc thoại nội tâm của Bá Kiến. Cách dẫn chuyện linh hoạt và vô cùng hấp dẫn Đoạn mở đầu rất độc đáo gây ấn tượng mạnh bi lối trần thuật nửa trực tiếp, có sự đan xen giữa lời người kể chuyện “Hắn vừa đi vừa chửi...” với độc thoại của nhân vật Ờ! Thế này thì tức thật!... Tác giả đã phá vỡ trật tự thông thường, dùng lối tự sự theo dòng nội tâm nhân vật để thuật lại diễn biến sự việc. Vì thế, trong lời trần thuật, hiện tại và hồi ức cứ lồng ghép vào nhau đoạn mở đầu, đoạn tả Chí Phèo “bâng khuâng tỉnh dậy sau một cơn say rất dài” ở cuối truyện,..., lời người kể và lời nhân vật có khi nhập vào nhau khiến cho điểm nhìn trần thuật cũng thay đổi một cách linh động lúc thì câu chuyện được thuật lại bằng một cái nhìn khách quan từ bên ngoài, lúc lại chuyển hoá thành điểm nhìn chủ quan của nhân vật từ bên trong. So với dung lượng của một truyện ngắn thì đây là một truyện tương đối dài, nhưng nó không hề nhàm chán bởi cách dẫn chuyện luôn biến ảo cùng những độc thoại nội tâm sinh động chẳng hạn độc thoại nội tâm của Chí Phèo sau cơn tỉnh rượu. c. Kết bài Những cảm nhận và đánh giá khái quát về vấn đề Mở rộng vấn đề bằng suy nghĩ và liên tưởng của mỗi cá nhân Bài văn mẫu ​Đề bài Giá trị nghệ thuật trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao Gợi ý làm bài​ Nam Cao là một nhà văn luôn thành công ở hai phương diện của sáng tác đó là khám phá về nội dung và phát minh sáng tạo về hình thức. Chính điều đó đã nâng tầm vóc nhà văn Nam Cao thành một nhà văn lớn, một tác gia lớn của nền văn xuôi hiện đại. Truyên ngắn Chí Phèo 1941 đã được xếp vào hàng kiệt tác bởi Nam Cao đã “khơi những nguồn chưa ai khơi, sáng tạo những gì chưa có” cả về nội dung và nghệ thuật. Ở tác phẩm này nhà văn Nam Cao đã thể hiện được một trình độ bậc thầy về nghệ thuật xây dựng nhân vật sống động, khám phá miêu tả sâu sắc tâm lí nhân vật, kết cấu tác phẩm một cách độc đáo và có một vốn ngôn ngữ phong phú sinh động cho mọi loại hinh nhân vật. Theo dõi từng trang truyện ngắn đặc sắc này chúng ta sẽ thấy rât rõ tài nghệ đó của Nam Cao. Nói đến văn xuôi là nói đến nghệ thuật xây dựng nhân vật, mỗi nhà văn có một cách thể hiện khác nhau và thành công ở những mức độ khác nhau. Đối với nhà văn Nam Cao ở tác phẩm này thì ông đã xây dựng được thành công cả tuyến nhân vật chính diện và phản diện và không những thành công mà thành công ở cấp điển hình. -Để tham khảo nội dung đầy đủ của tài liệu, các em vui lòng tải về máy hoặc xem trực tuyến- Một phương diện nghệ thuật mà nhà văn rất thành công ở truyện ngắn Chí Phèo đó là cách sử dụng ngôn ngữ rất phù hợp với từng đối tượng nhân vật. Ngôn ngữ của bọn Bá Kiến, Lí Cường là ngôn ngữ của bọn bề trên khi mềm mỏng khi đanh rắn rất biến hoá. Ngôn ngữ của các nhân vật như Chí Phèo, Thị Nở thì rất quê mùa có khi là tục tằng thô lỗ đó là loại ngôn ngữ phù hợp với tính cách nhân vật. Nhìn chung tác phẩm viết về đề tài người nông dân nên ngôn ngữ mà tác giả sử dụng trong tacs phẩm là loại ngôn ngữ bình dân chân quê, rất phù hợp với cảnh và tình của tác phẩm. Truyện ngắn Chí Phèo là một trong những truyên ngắn xuất sắc tiêu biểu của văn học hiện thực trước cách mạng tháng tám nói chung của nhà văn Nam Cao nói riêng. Tác phẩm này thành công trên nhiều phương diện cả nội dung và hình thức, nhưng đặc biệt nhất vẫn là nghệ thuật xây dựng kết cấu tác phẩm. Cùng một vấn đề rất phổ biến của xã hội lúc bấy giờ nhưng với tài nghệ của mình Nam Cao dẫ điển hình hoá được cả hai loại nhân vật chính diện và phản diện. Đọc tác phẩm này chúng ta vừa cảm phục được cái tâm của tác giả lại vừa cảm phục cái tài của tác giả. Cái tâm và cái tài đó là tiền đề để nhà văn thành công ở tác phẩm này. Mong rằng, tài liệu trên đã giúp các em hiểu rõ hơn dụng ý cũng như tư tưởng của nhà văn Nam Cao qua những nét đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn Chí Phèo. Chúc các em học tốt hơn truyện ngắn Chí Phèo với tài liệu văn mẫu này. -MOD Ngữ văn HOC247 tổng hợp và biên soạn Có phải bạn đang tìm kiếm chủ đề về => Giá trị nội dung và nghệ thuật trong Chí Phèo phải không? Nếu đúng như vậy thì mời bạn xem nó ngay tại đây. Xem thêm các bài tập khác tại đây => Giáo dục Tác phẩm Chí Phèo là một tác phẩm xuất sắc của nhà văn Nam Cao nói riêng và nền văn học Việt Nam nói chung. Đây là một truyện ngắn không chỉ mang giá trị nội dung vô cùng sâu sắc mà giá trị nghệ thuật nó còn là một chủ đề vô cùng hay trong chương trình Ngữ Văn lớp 11 cần nhớ. Kiểm tra các chi tiết dưới đây Tóm lượcGiá trị nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Chí Phèo – Nam CaoGiá trị nội dung và nghệ thuật trong Chí PhèoGiá trị nội dung trong tác phẩm Chí Phèo của Nam CaoGiá trị nghệ thuật trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao Tóm lượcGiá trị nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Chí Phèo – Nam Cao Để có thể nhớ hết những giá trị về nội dung và nghệ thuật, bạn có thể nhớ những chi tiết quan trọng như sau Về nội dung Bạn đang xem Giá trị nội dung và nghệ thuật trong Chí Phèo – Tố cáo xã hội phong kiến ​​bất công khiến con người sinh ra là người nhưng không được làm người – Qua đó nhấn mạnh hình ảnh, bản chất tốt đẹp của người dân lao động ngay cả khi tưởng đã bị xã hội tàn bạo cướp đi sinh mạng. Về nghệ thuật – Nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật – Nghệ thuật miêu tả tâm lí tài tình. – Nghệ thuật trần thuật, kết cấu tươi tắn, uyển chuyển, phóng túng – Ngôn ngữ, giọng điệu sôi nổi – Cốt truyện độc đáo, tình tiết gay cấn. Để hiểu thêm về tác phẩm, các bạn có thể tham khảo bài viết Soạn bài Chí Phèo với những phân tích chi tiết để làm nổi bật giá trị của tác phẩm. Giá trị nội dung trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao – Giá trị thực Sự áp bức, bóc lột, tàn ác của thực dân, phong kiến ​​đối với nông dân trong xã hội cổ đại Số phận của những người nông dân Việt Nam trước cách mạng vô cùng bi đát, bị bần cùng hóa và trở thành kẻ du côn. Họ bị đẩy vào con đường tha hóa, trác táng và cái chết là điều tất yếu để giải thoát họ khỏi đau khổ. – Giá trị nhân đạo Lên án gay gắt xã hội phong kiến, thực dân tàn bạo đã hủy hoại cả thể xác và tâm hồn của người nông dân lao động hiền lành, chất phác. Dẫn chứng Mẫu mực của một xã hội có đủ mọi tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ là chân dung những con người như Bá Kiến, như bà Thị Nở, như dân làng Vũ Đại. . Đồng cảm, sẻ chia, đau xót khi chứng kiến ​​những người dân hiền lành, lương thiện bị hành hạ, biến thành quỷ dữ của cả làng Vũ Đại. Trích dẫn Cho dù Chí Phèo có khao khát được trở lại làm người lương thiện thì xã hội ích kỷ, hẹp hòi cũng không chừa chỗ cho hắn. Anh ta chỉ còn một con đường duy nhất, đó là cái chết, để giữ lại sự lương thiện cuối cùng trong con người mình. Khẳng định niềm tin của tác giả vào bản chất lương thiện của người nông dân Trích dẫn Ngay cả khi họ bị vùi dập, mất đi cả nhân tính và con người thì khát vọng được sống, được yêu và được hạnh phúc vẫn chưa bao giờ bị dập tắt trong họ. Như lời cảnh báo của tác giả đối với số phận của những người nông dân Việt Nam trước Cách mạng, nếu không thay đổi thì cuộc sống của họ sẽ bế tắc, vô vọng, tha hóa, lưu manh và cái chết sẽ là điều tồi tệ nhất. không thể tránh khỏi. Trích dẫn Điều này được thể hiện qua chi tiết Thị Nở xem nhanh bụng bầu và dự đoán một đứa bé Chí Phèo sẽ ra đời. Giá trị nghệ thuật trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao 1. Nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật Chí Phèo và Bá Kiến là những tấm gương tiêu biểu trong tác phẩm. Sinh động, độc đáo, không lặp lại, mang tính khái quát cao về mâu thuẫn gay gắt ở nông thôn Việt Nam trước cách mạng, đặc biệt là nhân vật Chí Phèo. Ông là tấm gương sinh động cho những người nông dân bị quân tàn bạo tiêu diệt, tha hóa đến cùng -> xây dựng nhân vật điển hình sắc nét. 2. Nghệ thuật miêu tả tâm lí tài tình. Trong truyện ngắn đã tạo nên những đoạn văn hay. Số phận và bi kịch của Chí Phèo được khắc sâu qua những đoạn văn hay như đoạn Chí Phèo tỉnh dậy sau một đêm say và gặp Thị Nở; đoạn Chí Phèo bị từ chối tình yêu… 3. Cốt truyện độc đáo, tình tiết gay cấn, luôn thay đổi mang đến nhiều bất ngờ cho người đọc Kết cấu hình tròn, khép kín đã tạo nên chiều sâu cho truyện cổ tích Truyện mở đầu bằng hình ảnh đứa trẻ trần truồng xám xịt nằm cạnh lò gạch cũ, kết thúc bằng hình ảnh Thị Nở cúi gằm mặt suy nghĩ mông lung. đến một lò gạch xa vắng không người qua lại … => Kết cấu này thể hiện số phận bế tắc, vướng mắc của kiếp người trong xã hội bóc lột. Chí Phèo đã chết thì còn bao nhiêu kiếp nữa Chí Phèo sẽ lặp lại? 4. Ngôn ngữ, giọng điệu sôi nổi Ngôn ngữ và giọng điệu của Nam Cao được thể hiện một cách sinh động và đa dạng trong truyện ngắn này. Ngòi bút hiện thực vừa tỉnh táo, khách quan, vừa lạnh lùng, vừa đằm thắm, vừa trữ tình như hòa quyện, thẩm thấu vào nhau. Ngoài ra, giọng kể cũng thay đổi phù hợp với diễn biến tâm lý nhân vật, có khi sử dụng lời kể trực tiếp, có khi nửa trực tiếp, có khi có sự đan xen giữa hai giọng kể trên một cách nhịp nhàng, uyển chuyển. nhuyễn các ví dụ đoạn mở đầu tác phẩm, đoạn miêu tả tâm trạng khi ăn bát cháo hành, đoạn độc thoại nội tâm của Bá Kiến. 5. Cách tường thuật linh hoạt và cực kỳ hấp dẫn Đoạn văn mở đầu rất độc đáo, gây ấn tượng mạnh bởi lối kể nửa trực tiếp, có sự xen kẽ lời kể của người kể Vừa đi vừa chửi … với lời độc thoại của nhân vật Ôi! Giận dữ quá! …. Tác giả đã phá vỡ trật tự thông thường, sử dụng lối trần thuật theo dòng nội tâm của nhân vật để tường thuật lại diễn biến. Vì vậy, trong lời kể, hiện tại và kí ức được đan xen đoạn mở đầu, đoạn miêu tả Chí Phèo “tỉnh dậy sau một cơn say rất dài” ở cuối truyện,…, người kể và lời nhân vật đôi khi. hợp nhất, làm cho điểm nhìn trần thuật thay đổi linh hoạt có khi câu chuyện được trần thuật với cái nhìn khách quan từ bên ngoài, đôi khi lại biến thành điểm nhìn chủ quan của nhân vật. đối tượng từ bên trong. So với quy mô của một truyện ngắn, tác phẩm Chí Phèo tương đối dài nhưng không gây nhàm chán vì cách kể luôn thay đổi và các đoạn độc thoại nội tâm sinh động như đoạn độc thoại nội tâm của nhân vật Chí Phèo sau khi tỉnh dậy. Kết luận Những cảm nhận và đánh giá chung về giá trị nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Chí Phèo. Bạn có thể đưa ra những suy nghĩ và ý tưởng của mình về tác phẩm. Trên đây là những nội dung cơ bản của việc đánh giá và phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Chí Phèo – Nam Cao. Hi vọng bài viết này sẽ giúp các bạn củng cố những kiến ​​thức đã học về tác phẩm và vận dụng làm bài phân tích giá trị nội dung nghệ thuật của tác phẩm! Chúc may mắn trong kỳ thi! Trình bày, phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao trong chương trình Ngữ văn lớp 11 tập 1. Đăng bởi THPT Sóc Trăng Thể loại Giáo dục Bạn thấy bài viết Giá trị nội dung và nghệ thuật trong Chí Phèo có giải quyết đươc vấn đề bạn tìm hiểu không?, nếu không hãy comment góp ý thêm về Giá trị nội dung và nghệ thuật trong Chí Phèo bên dưới để có thể chỉnh sửa & cải thiện nội dung tốt hơn cho độc giả nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website Phân tích truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao dưới góc độ thi pháp Nam Cao bắt đầu sáng tác từ năm 1936, nhưng đến tác phẩm Chí Phèo, nhà văn mới khẳng định được tài năng của mình. Chí Phèo là một kiệt tác trong văn xuôi Việt Nam hiện đại, một truyện ngắn có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, mới mẻ, chứng tỏ trình độ nghệ thuật bậc thầy của một nhà văn lớn. Thời gian 1941–1944 là thời sáng tác sung mãn và có hiệu quả nhất trong đời viết văn của Nam Cao. Cố nhiên, ngòi bút viết văn của Nam Cao không đạt kỷ lục nào về số lượng, về độ dài hay độ dày. Cái mà ông đạt tới đỉnh cao là chất lượng mới chất lượng ngôn ngữ nghệ thuật, chất lượng tư duy xã hội và tư duy văn học. Chí Phèo là một truyện ngắn nổi tiếng của nhà văn Nam Cao viết vào tháng 2 năm 1941. Chí Phèo là một tác phẩm xuất sắc, thể hiện nghệ thuật viết truyện độc đáo của Nam Cao, đồng thời là một tấn bi kịch của một người nông dân nghèo bị tha hóa trong xã hội. Chí Phèo cũng là tên nhân vật chính của truyện. Trong Chí Phèo của Nam Cao, cái nhìn nghệ thuật của tác giả về con người qua hình tượng Chí Phèo là hai con người trong một con người với sự quyết đấu sinh tử Con người nhân tính, thiên lương và con người tha hóa, ác quỷ. Các điểm nhìn Chí Phèo được thể hiện ở các nội dung tiêu biểu lúc lọt lòng, tuổi ấu thơ với con số không trống trụi, ở đợ nhà bá Kiến và bị hàm oan; Chí Phèo trong quan hệ với bá Kiến và thị Nở, cái kết của số phận Chí Phèo. Cần phải tiếp cận và khai mở thi pháp của hình tượng này trong quan niệm, cái nhìn, điểm nhìn và bút pháp nghệ thuật của Nam Cao ở vấn đề cơ bản nhất là hai con người trong một con người. Đặc điểm này sẽ chi phối những vấn đề khác như không gian, thời gian nghệ thuật, giọng điệu, ngôn từ. Trong cấu trúc thẩm mĩ suốt hành trình cuộc đời của Chí, hai con người có lúc song hành tương hợp, có lúc tương khắc và cuối cùng là sự quyết đấu sinh tử. Ngay điểm chào đời, khởi đầu của lộ trình bi kịch thân phận Chí Phèo, Nam Cao đã đặt con người này ở điểm nhìn trơ trọi, cô lạnh, buồn tủi trên cái nền của lò gạch cũ bỏ không. Đấy không chỉ là dụng ý nói lên sự luẩn quẩn bế tắc của thân phận con người khi lặp lại chi tiết lò gạch cũ trong ý nghĩ của thị Nở ở cuối truyện, mà cơ bản là để tạo một điểm nhấn, một dấu ấn tái tê, sầu tủi vào thân phận, tâm thức Chí Phèo thiếu vắng hơi người, tình người, hương người, đặc biệt là tình ruột thịt. Điều này sẽ ám ảnh Chí mãi và lộ diện bằng nỗi đau tức trong tiếng chửi của Chí Phèo, trong cảm nhận của Chí về thị Nở, trong tiếng kêu đòi lương thiện cuối đời. Tiếp theo đấy, Nam Cao di chuyển điểm nhìn từ Chí Phèo sang những thân phận liên quan, có ý nghĩa tạo nên tính cách của Chí. Đó là những thân phận cũng ít nhiều trống trụi, cô lẻ, thiếu khuyết người đàn bà góa mù, bác phó cối không con. Trước khi đến với bác phó cối thì Chí bị cho, bị bán. Và sau khi bác phó cối không con chết thì Chí bơ vơ, hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ. Tại sao lại có lắm chi tiết gắn với con số không đến thế lò gạch cũ bỏ không, người đàn bà góa mù không chồng, mắt không nhìn thấy, bác phó cối không con, rồi không nhà cửa, không người thân, việc đi ở đợ không ổn định, ngay đến cái thẻ có biên tuổi hắn cũng không có trong sổ làng, khi Chí chửi thì không ai lên tiếng. Xâu chuỗi những cái không ấy ở điểm nhìn nhân vật sẽ tạo một hệ qui chiếu rọi vào tâm trạng thuở thiếu thời của Chí, và sẽ thành những khối sầu nặng trĩu khi con số không vẫn được tiếp nối kéo dài, khắc sâu, dù khi Chí đã lớn, đã ở bên kia dốc cuộc đời. Những điểm nhìn không bình luận này của Nam Cao hoàn toàn không phải không có dụng ý mà ngược lại, chúng được cài cấy cho sự khởi đầu và đổ nền hết sức quan trọng trong quá trình thiết kế đời sống tâm lí và nhân cách nhân vật. Những điểm nhìn ấy trong cái nhìn nghệ thuật của Nam Cao mang tính đa trị vừa có tính chất hoàn cảnh, xã hội vừa có tính chất tâm lí. Các chi tiết quan hệ xã hội của Chí là thuộc điểm nhìn không gian bề nổi, và không gian chìm là những dấu ấn buồn tủi, cô đơn, trơ trọi, trống vắng, hoang lạnh vì thiếu vắng tình người trong tâm trạng Chí. Điều đó là đầu mối của những con sóng chìm trong dòng chảy mãi về sau. Do vậy, tiếng chửi, một khi Chí đã thành con quỉ dữ, găm cả vào đứa chết mẹ nào đã đẻ ra thằng Chí Phèo trong đoạn mở đầu tác phẩm, chi tiết này được nhấn mạnh tới ba lần; và để sau này khi gặp thị Nở với bát cháo hành nóng hổi tình người, Chí sẽ rưng rưng muốn khóc. Như vậy, những tình tiết mở đầu cuộc đời Chí có ý nghĩa như đặt một phần nền móng cho tính cách, nhân cách của Chí về sau; là phần tiền đề cơ bản của con người thứ hai trong con người Chí Phèo tiếc thay, sách Hướng dẫn giảng dạy Ngữ văn 11 đã bỏ qua những chi tiết này khi cho rằng chỉ được nhà văn nói lướt qua bằng mấy câu ở đầu tác phẩm. Hai con người trong Chí đã được thiết kế ở những nét đầu và lộ trình của chúng bắt đầu phát triển, vừa có những lối riêng vừa có những sự tương tác mạnh mẽ trong sự chi phối của hiện thực. Con người bề mặt của tảng băng trôi trên hành trình ma đưa lối quỉ dẫn đường liên tiếp nhận những tai họa đổ xuống đầu, từ cơn ghen của bá Kiến, từ nhà tù thực dân – phong kiến, từ sự lợi dụng và tráo trở quỉ quyệt của bá Kiến khi Chí ra tù… Và do vậy, con người phần chìm của tảng băng là thiếu thốn tình thương, hơi ấm đồng loại, là ý thức về vinh và nhục, tinh thần và thể xác rạch ròi, đúng đắn và khát khao có một mái ấm dù chỉ là chồng làm thuê cuốc mướn, vợ dệt vải…, bị nhấn xuống càng sâu hơn. Sau khi Chí ở tù về, dẫu rằng nhân hình, nhân tính có những thay đổi nhất định nhưng cho tới khi Chí cầm chai đến tính sổ với bá Kiến thì chưa hẳn Chí đã là con quỉ dữ, và đấy vẫn là giai đoạn Chí ý thức rõ được kẻ thù, chưa bồng bềnh trôi trong hoang tưởng và vô định. Việc Chí đến nhà bá Kiến, gọi tận tên tục ra mà chửi ngay khi ra tù được một ngày thể hiện điều đó. Thế nhưng, bá Kiến đã hạ gục Chí bằng ba ngón đòn hiểm độc mà một kẻ như Chí lúc đó không thể đỡ nổi gọi Chí bằng anh, mời vào nhà đãi cơm gà và nhận họ. Ba viên đạn bọc đường này được Chí ngộ nhận là đã tẩy trừ những nỗi đau của con người thứ hai trong mình không gia đình – thì bây giờ đã có họ hàng, mà lại họ hàng với cụ bá, người đời coi thường gọi bằng thằng thì bây giờ đã được gọi bằng anh, thực tế và mặc cảm bé mọn thì đã có vị thế từ đặc ân được đãi cơm gà và cho tiền uống rượu. Đến đây thì con người thứ hai bị chặn lối, bị lạc lối, rẽ sang một bước ngoặt mới trong sự hoang tưởng về giá trị thực của bản thân hắn thấy hắn cũng oai, thử hỏi có mặt nào trong cái làng hơn hai nghìn suất đinh này làm được thế? Vì thế, đêm hôm ấy, ở nhà Bá Kiến ra về, Chí Phèo vô cùng hả hê! Bằng ba ngón đòn độc liên hoàn đánh trúng vào điểm huyệt vừa tâm thức vừa đời thường của Chí Phèo, bá Kiến nhanh chóng thay đổi tình thế chuyển Chí, từ chỗ là kẻ thù, thành kẻ tay sai; chuyển mình, từ chỗ là đối tượng trả thù của Chí, thành ân nhân của Chí. Chí hoàn toàn mất phương hướng. Bây giờ không còn đối tượng trả thù thì sao nguôi giận được khi kẻ thù bỗng chốc thành chủ nhân, mà mối thù và nỗi đau thì còn nguyên đấy! Như vậy là khi ra tù về làng, Chí còn tỉnh lắm nên đã đến nhà bá Kiến đòi nợ ngay. Nhưng sau khi Chí ở nhà bá Kiến về thì Chí ảo tưởng về giá trị bản thân. Từ đây cho đến khi gặp thị Nở, Chí bước vào một nhà tù mới, một nhà tù không có vách ngăn, không có tường bao, không có luôn cả thời hạn được tự do. Chí sẽ làm gì khi còn ôm nguyên mối hận mà không biết trả thù ai? Chí sẽ làm gì khi liên tiếp bị bá Kiến sử dụng làm tay sai cho những chuyện đâm chém để Chí càng hoang tưởng về bản thân hơn khi tự nhủ rằng anh hùng làng này cóc thằng nào bằng ta? Không biết trả thù ai thì lấy việc uống rượu cho nguôi ngoai, đó chính là sự tự hủy hoại bản thân. Và rồi hiển nhiên, hệ quả tất yếu là trút giận lên những người dân hiền lành vô tội. Mà càng như thế tức là Chí càng bị đẩy trượt xa hơn khỏi biên giới loài người. Trong chặng đời này cho tới khi Chí gặp thị Nở, hai con người trong Chí thể hiện rất rõ sự không tương hợp. Theo cách nói của M. Bakhtin thì ở Chí đã xuất hiện sự không tương hợp cơ bản giữa con người bên ngoài và con người bên trong. Hai con người trong Chí vẫn song hành. Trên bề mặt của tảng băng, những hành vi rạch mặt ăn vạ, gây ác cho dân lành hiển hiện hằng ngày. Càng gây sự, càng kiếm chuyện, càng rượu say thì càng tự hủy hoại mình và càng xa loài người. Tuy nhiên, như thế không có nghĩa con người thiên lương, con người nhân tính, con người với bản thể nguyên sơ thèm khát hơi ấm giống người trong Chí đã hoàn toàn biến mất. Nam Cao đã rất tài tình khi hé lộ một phần những sóng ngầm nỗi đau của con người thứ hai trong Chí ở điểm nhìn tiếng chửi của Chí. Có thể coi tiếng chửi của Chí là nhịp cầu nối giữa hai con người trong một con người Chí, là cái mã kí hiệu nghệ thuật lưỡng trị nếu tách riêng ra khỏi toàn cục đời Chí thì đấy là biểu hiện ngang tàng, vô văn hóa, vô đạo đức của con người bề mặt cả làng Vũ Đại hiểu như thế; nếu xét nó như một yếu tố, một phân hệ trong hệ thống thẩm mĩ toàn cuộc đời Chí thì nó mở ra thế giới chìm khuất nỗi buồn, tủi phận, cay đắng của con người thứ hai trong Chí. Vậy bản chất và ý nghĩa tiếng chửi của Chí là gì? Tại sao Nam Cao lại cho xuất hiện kí hiệu này ở vị trí ngay đầu tác phẩm? Trước hết, cần khẳng định ngay rằng tiếng chửi của Chí không phải vô cớ, mà hàm chứa những thông điệp nhất định. Đó là sự oán hận tất cả, coi thường tất cả, phủ nhận tất cả khi chửi trời, chửi đời, chửi làng Vũ Đại. Nhưng tại sao lại chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn? Điều này có vẻ vô lí, ngược đời nhưng hàm chứa trong đó cái lí của nghệ thuật Chí không có gì cả, tất cả chỉ là con số không trống trụi, vô nghĩa; dù bị loài người quay lưng, nhưng Chí vẫn cứ thèm hơi ấm con người. Thế nên, khi không thể tìm được mối dây liên hệ với đồng loại theo lẽ thường thì Chí buộc phải dùng con đường giao tiếp bằng tiếng chửi, thông qua tiếng chửi, vì nếu có ai chửi lại thì Chí có thể tìm được mối dây liên hệ với đồng loại, cho dù chỉ bằng tiếng chửi, qua tiếng chửi. Đấy chính là lí do khi không có ai chửi lại thì Chí tức chết đi được mất và liền chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn! Và tột cùng trong thất vọng, cay đắng, Chí chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này! Rốt cuộc, ngay cả tìm mối liên hệ với con người dù chỉ qua tiếng chửi cũng không được, và chỉ có tiếng đáp trả của ba con chó dữ mà thôi. Càng chửi thì càng tức vì không có ai chửi lại, càng tức thì càng uống, càng say, càng say thì càng có thể làm tất cả vì hắn say thì hắn làm bất cứ cái gì người ta bảo hắn làm. Đấy là cái vòng luẩn quẩn của Chí trong cái nhà tù mênh mông không vách, không tường, không phạm vi không gian và thời gian sau ba miếng bả bá Kiến tung ra, Chí nhầm tưởng và nuốt vội ngon lành trong ngày xách vỏ chai đến trả hận. Nếu không có tiếng chửi thì phần chìm trong con người Chí không có cơ thể hiện, nếu không có tiếng chửi thì toàn bộ quãng đời từ khi ra tù đến khi gặpthị Nở chỉ có phần nổi là những tội lỗi Chí làm trong khi say và làm vì người ta bảo hắn làm. Đấy chính là ý nghĩa điểm nhìn nghệ thuật tiếng chửi của Chí trong thi pháp cấu trúc nhân vật. Mặt khác, những chi tiết điểm xuyết như hắn làm điều đó trong khi say, hắn làm điều đó vì người ta bảo hắn làm và bao nhiêu việc ức hiếp, phá phách, đâm chém, mưu hại, người ta giao cho hắn làm đã lộn ngược sự tôn trọng trong từ cụ chỉ bá Kiến và sự khinh thị trong từ hắn chỉ Chí Phèo. Theo đó thì khi tỉnh, Chí không làm, nếu người ta không bảo thì Chí không làm. Điều đó bổ trợ thêm để người đọc không hoàn toàn phủ nhận Chí, đồng thời nhận ra rằng đằng sau con người thứ nhất hiển lộ bề mặt với những chửi bới, rạch mặt, đốt nhà, gây hại cho người lành là con người thứ hai vẫn tồn tại, vẫn âm ỉ, day dứt và quặn thắt nỗi niềm như sóng ngầm không ngừng cồn cào trong chiều sâu tâm khảm Chí, nhưng nó không có điều kiện bộc lộ, không biết bám víu vào đâu để nương tựa, giãi bày trong lộ trình trắng, không, bị chừa ra của đời Chí. Chi tiết này được đặt ngay đầu tác phẩm như một điểm nhấn, một cách lạ hóa nhân vật của Nam Cao, một cái then cần được mở từ hiệu ứng của cả hệ thống thẩm mĩ của hình tượng. Cần thiết phải thấy điều này, bởi nếu không thì làm sao một thị Nở như thế mà lại có thể giúp Chí hoàn lương được, cho dù được cộng thêm cả tình tiết trận ốm và tâm trạng cô đơn ở tuổi xế tà bên kia dốc cuộc đời của Chí. Nghĩa là những yếu tố này, tự chúng – dù trong thế hợp lực – cũng không thể đủ sức thanh lọc Chí nếu như không có những cơn đói tình người thuở ấu thơ, và nếu như những cơn sóng ngầm của cồn cào nỗi đau trống vắng trong Chí ở đoạn từ khi ra tù đến khi gặp thị Nở đã hoàn toàn nguội tắt. Những khát khao làm lành với con người, giao cảm với con người vẫn vô cùng mạnh mẽ và hằng thường trong con người thứ hai của Chí ẩn trong tiếng chửi nên khi gặp thị Nở, với quan hệ nhục cảm, với tình thương, hương người trong bát cháo hành cộng thêm nỗi cô đơn trong sự cảm nhận về tuổi già và trận ốm, Chí đã vồ vập ngay. Đấy là hành vi ứng xử của con người bên lề chết khát, chết đói. Được thuốc trị đúng bệnh, Chí bắt đầu thấy bâng khuâng, ăn năn, và những ước mơ có vẻ tầm thường nhưng tội nghiệp, lương thiện xưa lại thấp thoáng hiện về trong hình ảnh chồng làm thuê cuốc mướn, vợ dệt vải… Thị Nở là một điều kiện quan trọng và cần thiết để con người thứ hai chìm khuất trong Chí có dịp ngoi lên, phô mình, hiển lộ. Nhưng tai sao Nam Cao lại xây dựng hình tượng thị Nở như thế? Xây dựng thế để làm gì? Hiệu quả ra sao? Thị Nở là hình tượng độc đáo hàm chứa những dụng ý nghệ thuật sâu sắc. Nói cách khác thì thi pháp thị Nở chịu sự qui chiếu của thi pháp hình tượng Chí Phèo. Để nhấn mạnh nỗi khát thèm hơi ấm của con người ở Chí sâu sắc và mãnh liệt, Nam Cao không ngần ngại đẩy thị Nở về phía những đầu mút cực đoan của cái xấu, cái dở khi ông thể hiện cái nhìn nghệ thuật của mình về thị Nở ở ba điểm nhìn xấu ma chê quỉ hờn, nhà có mả hủi, dở hơi. Cả ba đặc điểm này đều tập trung triệt tiêu những khả năng thị Nở làm vợ của một người bình thường. Nam Cao còn cụ thể hóa ba đặc điểm trên bằng những chi tiết cá biệt để tạo nên cảm giác ớn sợ, kinh hãi. Thế nhưng Chí vẫn yêu, vẫn khát khao giá thế này mãi thì thích nhỉ, vẫn muốn cùng thị Nở ở một nhà cho vui, và Chí bỗng nhiên lột xác thành trẻ thơ trong veo, lương thiện khi hắn thấy lòng thành trẻ con, hắn muốn làm nũng thị như với mẹ. Đến đây, tuổi thơ số không và cơn khát thèm mẹ của Chí lộ nguyên hình! Một chi tiết không ngẫu nhiên nữa là năm ngày đêm đôi lứa xứng đôi này ở với nhau, đó là con số của thời gian nghệ thuật vừa đủ để con người quỉ dữ sau khi nếm trải tình đời, tình người trong nhục cảm thật lòng, sự ân cần chăm sóc được kết tụ qua hình tượng bát cháo hành và bộc bạch ngôn từ của ước mơ tội nghiệp… trở thành một người hoàn toàn khác. Cũng với chừng ấy thời gian, những năng giới được khơi tỏa, thanh lọc nên Chí mới cảm nhận được những âm vang của những người đi chợ Nam Định về kháo chuyện giá cả, của tiếng chim hót, của tiếng người đánh cá gõ thuyền trên sông. Trong thời gian ấy, Chí dường như lần đầu tiên trong đời được làm chủ về lời nói của mình, hành vi của mình, tư tưởng của mình. Trong quan niệm của Hêghen về con người trong nghệ thuật thì con người như thế mới là tinh thần Trong khi tồn tại với tính cách một đối tượng của tự nhiên, đồng thời y còn tồn tại cả cho mình nữa y tự ngắm nhìn mình, quan niệm về mình, suy nghĩ và chỉ qua cái hoạt động tồn tại vì mình như thế y mới là tinh thần. Còn theo đây chính là kiểu cá thể hình tượng mới và cao nhất, sẽ làm thay đổi tính chất của hình tượng con người Trong tiểu thuyết, con người được giao cho tính chủ động về tư tưởng và ngôn ngữ, tính chủ động này sẽ làm thay đổi tính chất của hình tượng con người kiểu cá thể hóa hình tượng mới và cao nhất. Chí chầm vập thị Nở, nhưng hoàn toàn không phải chỉ là chiếm đoạt để thỏa mãn nhu cầu nhục cảm nhất thời, mà cái quan trọng nhất Chí cảm nhận được từ mối quan hệ này là tình người, hơi ấm đồng loại. Điều đó là cơn khát mạnh nhất luôn triền miên trong dòng chảy tâm thức của Chí từ sự ám ảnh không cha không mẹ, ám ảnh bởi cái lạnh của lò gạch bỏ không, của nhưng con số không hãi hùng như một hằng số liên tiếp trong đời mình. Như vậy, Nam Cao xây dựng nhân vật thị Nở với dụng ý không chỉ tạo ra bước ngoặt trong cuộc đời Chí, mà chủ yếu là để thể hiện nỗi mong ước, khát khao làm người trong con người thứ hai của Chí mạnh mẽ biết bao, bởi thị Nở xấu như thế, tệ như thế, dở như thế mà Chí vẫn yêu và yêu một cách thành thực, yêu và hướng về mong ước vợ chồng rất đáng cảm thương, trân trọng. Xét về ý nghĩa thi pháp, hình tượng thị Nở chính là phép thử, điều kiện, chất xúc tác để con người thứ hai trong Chí hiển lộ một cách thuyết phục, biện chứng. Tất cả được đặt trên cái nền hoang lạnh với vườn chuối, bãi sông, ánh trăng của không gian nghệ thuật một cách hiệu ứng, phù hợp. Nhưng tình yêu tan vỡ, thị Nở bội tình, cái nhịp cầu mà Chí những tưởng sẽ nối đến bờ lương thiện của loài người gãy gục chóng vánh đến mức làm Chí sững sờ. Đến đây, sự bừng tỉnh trong Chí vọt trào sau sự ngỡ ngàng thoáng chốc không thể lương thiện được nữa rồi. Hành vi Chí tự sát sau khi giết bá Kiến là điểm gặp cuối cùng trong một cuộc quyết đấu gay gắt và căng thẳng của hai con người trong Chí con người ác thú và con người lương thiện đã xung đột ở đỉnh điểm mâu thuẫn, con người lương thiện đã chiến thắng qua nhát dao kết liễu con người quỷ dữ, tha hóa, vô lương. Chí gục ngã nhưng với tay về phía cõi người, nhoài người về phía thiên lương. Chí không gục ngã trước cái ác mà trước cánh cửa lương thiện với một khát khao hoàn lương mãnh liệt vô bờ. Con người thứ nhất bị kết liễu và con người thứ hai hoàn toàn hiển lộ, bừng sáng, trong veo vẻ đẹp nhân văn. Với điều ấy, Nam Cao đã sinh hạ con người ngay trong chính con người. Đó là đặc điểm cao nhất của chủ nghĩa nhân đạo. Với thi pháp xây dựng hình tượng Chí Phèo, Nam Cao đã đạt đến đỉnh cao của chủ nghĩa hiện thực. Theo Dotstoievski, việc miêu tả con người trong con người và các chiều sâu của tâm hồn con người chính là đặc điểm của chủ nghĩa hiện thực trong ý nghĩa cao nhất Trong chủ nghĩa hiện thực đầy đủ phải tìm thấy con người trong con người … người ta gọi tôi là nhà tâm lí không đúng, tôi chỉ là nhà hiện thực chủ nghĩa trong ý nghĩa cao nhất, tức là tôi miêu tả tất cả các chiều sâu của tâm hồn con người. . Cái tài của người nghệ sĩ khi sáng tạo hình tượng là phải tạo nên được một cấu trúc hệ thống thẩm mĩ sao cho các yếu tố tương tác được với nhau mà vẫn rất tự nhiên, không hề gượng ép giữa các tầng nổi và chìm, khuất và lộ, hiển và hàm… Có như thế thì hình tượng mới thoát ra được khỏi cấp miêu tả trực cảm có tính xã hội học, mới bước sang được địa hạt thẩm mĩ, tư tưởng của văn chương; mới bao hàm được ý niệm trong trực cảm, triết luận trong tường thuật, đánh giá trong miêu tả… Nam Cao đã làm được điều đó khi sáng tạo hình tượng Chí Phèo – một nhân vật hiện thực đặc sắc – trong điểm nhìn nghệ thuật ở hai không gian nghệ thuật song hành, tương giao, ảnh hưởng và chi phối lẫn nhau hết sức biện chứng. Không gian nổi là không gian địa lí với các quan hệ xã hội của Chí trên nền làng Vũ Đại ngày ấy. Ở không gian này, mâu thuẫn, tính kịch được tạo ra từ mối quan hệ giữa Chí Phèo với bá Kiến và thị Nở. Không gian chìm là không gian tâm cảm của Chí về thân phận, nỗi niềm, về sự thiếu khát tình người, về nỗi uất ức, căm thù nhưng không thể trả thù cho đến trước cái chết. Đó là không gian trống trụi, hoang lạnh nhưng luôn cuộn sóng. Cái không gian thứ nhất mà Chí tồn tại cho ta dáng nét ngoại hình, ứng xử, hành xử của Chí trong cái vòng luẩn quẩn tay đánh lấy chân bởi tại người ta; cái không gian thứ hai chỉ độc mỗi Chí Phèo – hệ quả của một Chí Phèo thứ hai có được một phần từ những thiếu vắng và va đập, xung đột trong không gian thứ nhất, và phần khác là sức mạnh thiên lương vốn có trong con người luôn chòi giẫy, quẫy đạp. Không gian này không biên giới, không chiều kích. Trong hai không gian đó, hai con người xuất hiện, lúc thì con người bề mặt lên tiếng, lúc thì con người bên trong quằn quại. Độ đậm nhạt của mỗi con người không đều nhau ở mỗi chặng đời của Chí. Mâu thuẫn, tính kịch ở không gian thứ hai này chính là sự xung khắc giữa cái ác và cái thiện ngay trong con người Chí. Lộ trình phát triển của nó sẽ dẫn tới xung đột mất còn. Do vậy, sự gặp gỡ qua lô gích phát triển tính cách trong cuộc quyết đấu sinh tử ở điểm cuối của hai con người trong Chí tại nhà bá Kiến là chung cục tất yếu của đỉnh điểm mâu thuẫn khi Chí nhận rõ bi kịch không thể lương thiện được nữa của mình. Thi pháp xây dựng và diễn trình đặc điểm, lô gích tính cách nhân vật Chí Phèo từ cái nhìn và những điểm nhìn nghệ thuật như thế cho phép Nam Cao dùng lời văn đa giọng điệu của lối trần thuật trầm tĩnh, sắc lạnh; giấu nỗi đau trong ngôn từ đa thanh, đa trị; giấu cái bi sau cái hài; ẩn thiên lương của nhân vật dưới bề mặt nham nhở khủng khiếp của quỷ dữ. Lô gich tính cách, tâm trạng Chí phát triển trong sự chi phối nghiêm ngặt của hiện thực nên Nam Cao hoàn toàn không cần đến trữ tình ngoại đề, và việc gọi Chí là hắn, thằng này, bá Kiến bằng cụ mang tính lưỡng trị càng đẩy cao tính khách quan của sự việc, sức chinh phục của hình tượng. Qua đó, tác giả của kiệt tác này đã chuyển việc kể và tả một cách trực cảm về cuộc đời con người xã hội học trong một không gian địa lí, thời gian lịch sử xác định, hạn hẹp, cụ thể thành một con người văn học với bi kịch sâu sắc có tầm phổ quát sâu rộng mang tính nhân loại; chuyển con người vật chất thành con người tinh thần, tư tưởng. Con người, không gian và thời gian xã hội, địa lí, lịch sử của Chí Phèo là chất liệu, điều kiện để đẩy tới điểm đến của một tư tưởng nhân văn sâu sắc và cao đẹp. Cái lô gích tính cách của nhân vật chinh phục người đọc một cách thấm thía, hiệu quả và người đọc thấy lấp lánh giá trị ý niệm đằm sâu bên trong giá trị trực cảm của nhân vật bi kịch đau đớn cho cái giá làm người, sức mạnh to lớn của hai tiếng con người, cõi người. Đó là bi kịch khát thèm lương thiện mà không được lương thiện, khát thèm hơi người mà bị đẩy ra ngoài cõi người, ghê sợ cái xấu nhưng phải làm điều xấu. Chí Phèo rơi vào bi kịch tha thóa nhân cách, bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Cuộc quyết đấu cam go, sinh tử giữa Con Người và quỉ dữ mà phần thắng cuối cùng thuộc về Con Người. Nam Cao thực sự đã khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có như chính tuyên ngôn của ông. Truyện ngắn Chí Phèo đã khái quát một hiện tượng xã hội ở nông thôn Việt Nam trước năm 1945, một bộ phận nông dân lao động lương thiện bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa. Nhà văn đã kết án đanh thép cái xã hội tàn bạo tàn phá cả thể xác và tâm hồn người nông dân lao động, đồng thời khẳng định bản chất lương thiện của họ, ngay trong khi họ bị vùi dập mất cả nhân hình, nhân tính. Chí Phèo là một tác phẩm có giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc, mới mẻ. Chủ đề chính của câu chuyện này là phê phán xã hội phong kiến ngày xưa. Trong truyện, có những sự xuất hiện của con người và nhân vật. Hơn nữa, nhà văn Nam Cao đã đề cao và khẳng định những phẩm chất tốt đẹp, cao quý của Chí Phèo – Thị Nở. Câu chuyện này đã nói lên sự xung đột vô cùng quyết liệt của các tầng lớp khác nhau trong xã hội phong kiến. Phân tích truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao.

nghệ thuật chí phèo